Tóm tắt nhanh: Theo giải đáp chính thức từ Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính, nếu doanh nghiệp chi trả lương, thu nhập khác sau khi người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động, thì bản cam kết thu nhập chưa đến mức chịu thuế không phải là căn cứ để tạm thời không khấu trừ thuế TNCN. Doanh nghiệp vẫn phải khấu trừ 10% trên thu nhập nếu mức chi trả từ 5 triệu đồng/lần trở lên, căn cứ Nghị định 253/2026/NĐ-CP.
Mục lục
- Tình huống thực tế đặt ra
- Căn cứ pháp lý: Khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP
- Căn cứ pháp lý: Khoản 1 Điều 67 Nghị định 253/2026/NĐ-CP
- Câu trả lời chính thức của cơ quan thuế
- Vì sao bản cam kết không có giá trị trong trường hợp này?
- Doanh nghiệp cần làm gì để tránh rủi ro?
- Câu hỏi liên quan: Giấy tờ cần lấy khi nghỉ việc từ 01/7/2026
- Câu hỏi liên quan: Nghỉ việc mở hộ kinh doanh có được trợ cấp thất nghiệp?
- Câu hỏi thường gặp (FAQ)
- Kết luận

1. Tình huống thực tế đặt ra
Nhiều doanh nghiệp và người lao động (NLĐ) hiểu chưa đúng về cơ chế “làm cam kết để tạm thời chưa khấu trừ thuế TNCN” quy định tại Nghị định 253/2026/NĐ-CP. Một tình huống phổ biến là: NLĐ đã nghỉ việc, công ty cũ vẫn còn khoản lương/thu nhập cần chi trả (ví dụ lương tháng cuối, thưởng, hoa hồng…), và NLĐ đề nghị công ty không khấu trừ 10% thuế TNCN bằng cách lập bản cam kết thu nhập chưa đến mức chịu thuế.
Vậy bản cam kết này có hợp lệ trong trường hợp NLĐ đã chấm dứt hợp đồng lao động hay không? Cơ quan thuế đã có câu trả lời rõ ràng, được phân tích chi tiết dưới đây.
2. Căn cứ pháp lý: Khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP
Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân, tại khoản 2 Điều 50 về khấu trừ thuế nêu rõ:
“Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân.”
Điểm mấu chốt: quy định này áp dụng kể cả với trường hợp trả thu nhập cho NLĐ đã chấm dứt hợp đồng lao động. Điều khoản cũng cho phép cá nhân làm bản cam kết (theo mẫu quy định) gửi tổ chức chi trả, để tổ chức chi trả tạm thời chưa khấu trừ thuế, nếu ước tính tổng thu nhập chịu thuế sau giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế. Tuy nhiên, cá nhân làm cam kết phải tự chịu trách nhiệm về nội dung cam kết; nếu phát hiện gian lận sẽ bị xử lý theo pháp luật quản lý thuế.
3. Căn cứ pháp lý: Khoản 1 Điều 67 Nghị định 253/2026/NĐ-CP
Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 67 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định về trách nhiệm khấu trừ, khai thuế thay, nộp thuế thay:
“Tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập… trước khi chi trả các khoản thu nhập cho cá nhân có trách nhiệm thực hiện khấu trừ và nộp số thuế đã khấu trừ của người nộp thuế, trừ các khoản thu nhập quy định tại khoản 4 Điều này.”
Như vậy, tổ chức chi trả thu nhập có trách nhiệm khấu trừ thuế trước khi chi trả, trừ những trường hợp được loại trừ cụ thể tại khoản 4 Điều 67. Việc chi trả thu nhập cho người đã nghỉ việc không thuộc diện được loại trừ.
4. Câu trả lời chính thức của cơ quan thuế
Trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính, cơ quan thuế đã giải đáp trực tiếp cho tình huống này. Câu hỏi đặt ra gồm hai ý: (1) đối tượng thuộc diện khấu trừ 10% có phải chỉ là người có thu nhập từ hợp đồng dịch vụ, khoán việc (không phải hợp đồng lao động) hay không; và (2) trường hợp cá nhân tại thời điểm cam kết chỉ có thu nhập diện khấu trừ, nhưng sau đó lại làm việc và ký hợp đồng lao động chính thức ở nơi khác, thì đơn vị đã nhận cam kết trước đó có bị truy thu 10% không.
Cơ quan thuế trả lời rõ hai điểm:
- Về đối tượng khấu trừ: Cá nhân thuộc diện khấu trừ 10% là cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng, với mức chi trả từ 5 triệu đồng/lần trở lên — không giới hạn chỉ ở hợp đồng dịch vụ, khoán việc.
- Về hiệu lực bản cam kết khi đã nghỉ việc: Trường hợp tại thời điểm làm cam kết, cá nhân chỉ có thu nhập thuộc diện khấu trừ nêu trên, hoặc tự ý khai báo sai thông tin cho đơn vị chi trả (ví dụ giấu việc đã từng ký hợp đồng lao động ở nơi khác), nhưng sau đó lại ký hợp đồng lao động chính thức tại đơn vị khác — thì đơn vị trước đó (nơi cá nhân đã làm cam kết) vẫn phải khấu trừ 10% theo quy định, không được miễn trừ dựa trên bản cam kết.
5. Vì sao bản cam kết không có giá trị trong trường hợp này?
Bản chất của cơ chế “làm cam kết” tại khoản 2 Điều 50 chỉ là biện pháp tạm thời giúp tổ chức chi trả chưa khấu trừ ngay, dựa trên ước tính thu nhập chịu thuế cả năm của cá nhân. Đây không phải là căn cứ miễn trừ nghĩa vụ khấu trừ vĩnh viễn, và trách nhiệm về tính chính xác của cam kết thuộc về cá nhân lập cam kết.
Khi NLĐ đã chấm dứt hợp đồng lao động với công ty, mọi khoản chi trả sau đó (lương tháng cuối, thưởng, hoa hồng, phụ cấp…) rơi vào đúng nhóm đối tượng “trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động” mà Nghị định 253/2026/NĐ-CP đã nêu đích danh. Nói cách khác, quy định đã dự liệu sẵn tình huống này và không cho phép dùng bản cam kết để né khấu trừ.
6. Doanh nghiệp cần làm gì để tránh rủi ro?
Để tránh bị truy thu thuế, xử phạt vi phạm hành chính hoặc tính chậm nộp, kế toán doanh nghiệp nên lưu ý:
- Rà soát thời điểm chi trả so với thời điểm chấm dứt HĐLĐ. Nếu khoản chi trả phát sinh sau ngày chấm dứt hợp đồng, mặc định phải khấu trừ 10% khi mức chi trả từ 5 triệu đồng/lần trở lên, không căn cứ vào bản cam kết đã lập trước đó (nếu có).
- Không chấp nhận bản cam kết cho khoản thu nhập trả sau khi nghỉ việc. Nếu NLĐ đề nghị lập cam kết cho khoản lương/thưởng chi trả sau khi đã chấm dứt hợp đồng, kế toán nên từ chối và giải thích rõ căn cứ pháp lý.
- Lưu hồ sơ khấu trừ đầy đủ. Chứng từ khấu trừ thuế TNCN cần lưu trữ để đối chiếu khi quyết toán và khi cơ quan thuế thanh, kiểm tra.
- Hướng dẫn NLĐ tự quyết toán thuế TNCN nếu tổng thu nhập thực tế sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức chịu thuế, để được hoàn lại phần thuế đã khấu trừ theo đúng quy trình quyết toán, thay vì tìm cách né khấu trừ ngay từ đầu.
7. Câu hỏi liên quan: Từ 01/7/2026, người lao động nghỉ việc cần lấy những giấy tờ gì?
Khi chấm dứt hợp đồng lao động từ 01/7/2026, NLĐ nên chủ động đề nghị doanh nghiệp cung cấp các giấy tờ quan trọng sau để phục vụ quyết toán thuế TNCN, hưởng bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi liên quan:
- Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động / thông báo chấm dứt HĐLĐ;
- Chứng từ khấu trừ thuế TNCN của các khoản thu nhập đã nhận trong năm;
- Xác nhận quá trình đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp (sổ BHXH hoặc bản xác nhận điện tử);
- Giấy xác nhận thu nhập (nếu cần cho mục đích vay vốn, chuyển việc…);
- Các chứng từ liên quan đến hoàn trả tài sản, công cụ dụng cụ (nếu có).
8. Câu hỏi liên quan: Nghỉ việc mở hộ kinh doanh có được hưởng trợ cấp thất nghiệp không?
Đây là câu hỏi được nhiều NLĐ quan tâm khi chuyển hướng sang tự kinh doanh sau khi nghỉ việc công ty. Về nguyên tắc, điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp gắn với việc chưa có việc làm và đã đăng ký tìm việc làm theo quy định pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp. Nếu NLĐ đã đăng ký thành lập hộ kinh doanh và hộ kinh doanh đó phát sinh hoạt động (có nghĩa là NLĐ đã “có việc làm”), thì thông thường sẽ không còn đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp kể từ thời điểm phát sinh hoạt động kinh doanh, tùy theo quy định và thời điểm đăng ký cụ thể. Doanh nghiệp/hộ kinh doanh và NLĐ nên đối chiếu quy định bảo hiểm thất nghiệp hiện hành hoặc liên hệ trực tiếp cơ quan bảo hiểm xã hội để được xác nhận chính xác theo từng trường hợp cụ thể.
9. Câu hỏi thường gặp (FAQ)
1. Bản cam kết theo Nghị định 253/2026/NĐ-CP có còn giá trị sau khi NLĐ đã nghỉ việc không? Không. Nếu khoản thu nhập được chi trả sau thời điểm NLĐ đã chấm dứt hợp đồng lao động, doanh nghiệp vẫn phải khấu trừ 10% thuế TNCN khi mức chi trả từ 5 triệu đồng/lần trở lên, bất kể NLĐ đã từng lập bản cam kết hay chưa.
2. Mức thu nhập bao nhiêu thì bắt buộc phải khấu trừ 10% thuế TNCN? Từ 5 triệu đồng/lần chi trả trở lên đối với cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng (bao gồm cả người đã chấm dứt hợp đồng lao động). Dưới 5 triệu đồng/lần thì chỉ khấu trừ khi cá nhân có yêu cầu.
3. Nếu NLĐ khai báo sai thông tin trong bản cam kết thì ai chịu trách nhiệm? Cá nhân lập cam kết phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của nội dung cam kết. Nếu phát hiện gian lận, cá nhân sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật về quản lý thuế và pháp luật liên quan.
4. Doanh nghiệp có bị phạt nếu không khấu trừ thuế trong trường hợp này không? Có rủi ro bị truy thu số thuế chưa khấu trừ, tính tiền chậm nộp và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế nếu cơ quan thuế xác định doanh nghiệp đã không thực hiện đúng trách nhiệm khấu trừ theo quy định tại Điều 67 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.
5. NLĐ bị khấu trừ 10% có được hoàn thuế không? Có. Nếu tổng thu nhập chịu thuế thực tế trong năm sau khi trừ các khoản giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế, NLĐ có thể thực hiện quyết toán thuế TNCN để được hoàn lại phần thuế đã khấu trừ thừa theo đúng quy trình quyết toán thuế hàng năm.
10. Kết luận
Quy định tại Nghị định 253/2026/NĐ-CP đã nêu rõ: khoản chi trả cho người lao động sau khi đã chấm dứt hợp đồng lao động thuộc diện bắt buộc khấu trừ 10% thuế TNCN nếu mức chi trả từ 5 triệu đồng/lần trở lên, và bản cam kết không phải là căn cứ hợp lệ để tạm thời không khấu trừ trong trường hợp này. Đây là điểm doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý khi xử lý các khoản lương, thưởng, hoa hồng phát sinh sau ngày nghỉ việc của NLĐ, tránh rủi ro bị truy thu và xử phạt khi quyết toán hoặc thanh, kiểm tra thuế.
Cần tư vấn cụ thể về khấu trừ thuế TNCN cho trường hợp doanh nghiệp bạn?
VPGD: Tòa nhà Sông Đà 9, số 2 Nguyễn Hoàng, Mỹ Đình 2, Nam Từ Liêm, Hà Nội.
Hotline: 094.859.3663
Website: Kế toán Bách Khoa | Dịch vụ kế toán thuế | Thành lập công ty

Lỗi: Không tìm thấy biểu mẫu liên hệ.
Bài viết liên quan: